Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên gần đây đã cung cấp thêm bằng chứng về vai trò của đơn trị liệu chống đông máu trong giai đoạn ổn định. Thử nghiệm AFIRE cho thấy ở bệnh nhân rung nhĩ kèm bệnh động mạch vành ổn định, đơn trị liệu bằng thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp (DOAC) giúp giảm tỷ lệ biến cố kết hợp gồm tử vong do tim mạch, Nhồi máu cơ tim, Đột quỵ, tắc mạch hệ thống và chảy máu nặng so với liệu pháp phối hợp DOAC và thuốc chống kết tập tiểu cầu [2].
Tương tự, thử nghiệm OAC-ALONE đánh giá bệnh nhân rung nhĩ đã đặt stent mạch vành trên 1 năm cho thấy việc tiếp tục liệu pháp chống kết tập tiểu cầu kết hợp với OAC không mang lại lợi ích rõ ràng so với OAC đơn trị, trong khi nguy cơ chảy máu có xu hướng cao hơn ở nhóm điều trị phối hợp (3). Ngoài ra, thử nghiệm AUGUSTUS cũng chứng minh rằng việc loại bỏ aspirin khỏi phác đồ điều trị ở bệnh nhân rung nhĩ sau hội chứng mạch vành cấp hoặc PCI giúp giảm đáng kể biến cố chảy máu mà không làm tăng đáng kể nguy cơ biến cố thiếu máu cục bộ [4].
Dựa trên các bằng chứng hiện có, nhiều khuyến cáo lâm sàng hiện nay đề xuất rằng ở bệnh nhân cần điều trị OAC dài hạn sau PCI, liệu pháp chống kết tập tiểu cầu không nên được duy trì vô thời hạn. Thông thường, thuốc chống kết tập tiểu cầu có thể được ngừng sau 6–12 tháng kể từ khi can thiệp mạch vành, trong khi OAC được duy trì lâu dài. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguy cơ huyết khối cao (ví dụ: tiền sử huyết khối stent, bệnh động mạch vành lan tỏa hoặc nhiều stent), việc tiếp tục một thuốc chống kết tập tiểu cầu đơn trị có thể được cân nhắc sau khi đánh giá cân bằng giữa nguy cơ huyết khối và nguy cơ chảy máu [1,5].
Tài liệu tham khảo
Người viết: Nguyễn Thị Hà
Người duyệt: Nguyễn Thị Thùy Trang
» Tin mới nhất:
» Các tin khác: